✅ Chương 3: Ông Lão Bán Rắn ⭐️⭐️⭐️⭐️⭐️

5/5 - (1 vote)

Hai đêm sau đó, trời mưa liên tiếp. Phần vì trời mưa, không mấy người đi chợ, phần vì có lệnh của thôn bộ Việt Minh cấm họp chợ đêm, đề phòng bọn Việt gian trà trộn vào xã không kiểm tra được, nên xóm chợ Ngã Ba kênh vào lúc vừa quá đỏ đèn đã trở nên buồn thỉu buồn thiu.

Chỉ còn quán cà phê dưới tàn cây bã đậu, mấy tiệm hủ tiếu của người Hoa Kiều ở chỗ dãy phố ngói nằm bên trong chợ ngó ra kênh và quán dì Tư Béo là có ánh đèn, lác dác bóng người lui tới.

Chợ chỉ đông ban ngày, nhưng người cũng chỉ nhóm họp lưa thưa. Nhiều gia đình đã rục rịch tản cư xuống Thới Bình. Mấy hôm trước, những lúc trời im gió, dừng ở bờ kênh có thể nghe tiếng trầm trầm của súng đại bác bắn từ xa. Sáng nay, nhiều người còn nghe cả tiếng súng đại liên của tàu giặc ở hướng Ngã Năm. Dì Tư Béo đóng cửa quán, nghỉ một ngày để thu vén công nợ, đi đòi các món tiền rượu chịu của người quanh xóm.

Buổi trưa rảnh rỗi, tôi cũng mò vào chợ chơi, nghe ngóng tình hình. Phòng thông tin trước kia là nơi tụ họp đông người nhất. Vậy mà hôm nay cũng chẳng có mấy người vào xem tin tức, bởi vì toàn những in tức cũ. Một đôi dòng tin mới, viết tay dán vội lên đó thì cũng chẳng hơn gì sự hiểu biết của mọi người, chẳng đáng lưu ý và hấp dẫn bằng những tin đồn nhảm vô căn cứ, thậm chí nhiều khi còn vô lý nữa kia. Lực lượng phòng thủ của ta thế nào? Ngày mai rồi sẽ ra sao? Phần đông người ta đến đó để tự đặt ra những câu hỏi và tự nghĩ ra những câu trả lời. Bọn con gái bưng cả những rổ quả mãng cầu xiêm, vác cả những bó mía vào đựng trong phòng thông tin để ngồi bán. Chúng nó chơi đánh chuyền chuyền hoặc róc mía xả bừa bãi, la hét, cãi nhau om tỏi mà cũng chẳng ai rầy la gì. Tôi ngán ngẩm quá, bỏ phòng thông tin lững thững đi dọc ra bờ kênh. chợt thấy lão Ba Ngù đứng dưới gốc cây bã đậu to nhất Ở gần mé nước, tôi bèn men đến.

– Bác về từ bao giờ đó? – tôi hỏi cho có hỏi, chứ đã nghe dì Tư Béo nói đêm qua với con mụ vợ Tư mắm rằng lão về từ chiều.

– Về từ lúc về ấy! lão cười khà khà đáp giọng đã có chén. – Còn mày, bà chủ của mày bữa nay đi đâu mày sút xiềng (xiềng = dây xích, ý nói thoát khỏi ) dạo chơi đó.

– Bà đi đòi nợ. Đâu như tối mới về…

– Vô nhà lão đi ăn thịt rắn một bữa chơi đi!

– Rắn đâu mà ăn? Bác bắt được rắn à? – tôi hỏi vậy, chứ nghe nói thịt rắn là tôi đã lạnh xương sống rồi.

– Rắn kia chứ đâu, mậy. – Lão vỗ một cái vào lưng tôi, trỏ ra kênh: – Ghe chở rắn dưới U Minh vừa lên đấy?

Tôi trông theo ngón tay lão chỉ. Một chiếc thuyền nhỏ, mui lá, đang đè sóng rẽ vào bờ. Trước mũi thuyền, một thằng bé trạc mười bốn mười lăm tuổi, mặc quần đùi, cởi trần đứng dún hai chân, hai tay cầm cây sào dài chống xuống nước. Bên chân thằng bé có con chó săn, sắc lông màu tro, đang chồm lên chồm xuống, đuôi ngoắt qua ngoắt lại, hóng mõm lên bờ. Đằng sau lái, một ông cụ già cao to, vạm vỡ, chít khăn đầu rìu màu đỏ, áo bà ba đen thả cúc, vạt áo bay phần phật, đang nghiêng người quạt mái chèo đưa thuyền cập bến.

– Rắn ăn được sao? – tôi hỏi lão Ba Ngù.

– Trời ơi, thằng này ná quá (khờ quá)! Chưa ăn bao giờ à? Thịt rắn ngon và bổ số một đấy. Con nít ở đây đều nếm mùi thịt rắn từ hồi còn trong bụng mẹ.

– Cháu chưa ăn lần nào?

– Ngon tuyệt Ngon tuyệt! Rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh nước cốt dừa thì biết nhá? Già bảy mươi tuổi ăn món ấy thấy trẻ tráng ra như con trai mười bảy. Sơ sài thì rắn nhóc rắn bông súng uớp xì dầu, cặp gắp nguyên cả con mà nướng, bẻ từng khúc cầm tay xé ra chấm muối ớt nhậu. Thịt ngọt không gì bằng. Cầu kỳ thì rắn hổ đất, mèo mun chưng thuốc bắc, gọi là “long hổ hội”. Thường thường thì hoặc băm xào sả ớt, hoặc nấu ca- ri nước dừa… Khối cách ăn. Nhưng gì thì gì, cũng không bằng nấu cháo. Món phổ thông nhất mà. Vừa bổ lại vừa mát.

– Nướng thì còn thơm, chứ nấu cháo không tanh sao, bác?

– Ăn rồi mới biết, thịt rắn thơm như thịt gà, lại giòn dai, không bở như thịt gà. Có phải nấu suông đâu mà tanh? Này nhé, làm lông (lột da) xong, chặt khúc thả vào nồi cháo luộc lấy nước ngọt. Rồi mình gắp ra chứ. rồi mình xé nhỏ ra, băm nhỏ ướp hành tỏi, hạt tiêu, nước mắm. Rồi mình bắc chảo mỡ cho sôi. lên, thả tỏi vào. ấy, bấy giờ mình mới xào hắn ta! Xong, mình mới múc cháo ra bát, rồi mình xúc hắn ra, mình cho vào cháo khoắng khoắng mấy cái… Rồi mình rắc lên một ít hạt tiêu… E hèm! E hèm… Thôi, mày sẽ khắc biết thôi. Ghe đã cập bờ rồi kia!.

– Ra xem rắn, chúng mày ơi? – một giọng trẻ con bỗng hô hoán lên…

Tôi nghe tiếng quen quen, quay lại đã thấy thằng bé lùn lùn béo ục ịch đang dắt một đám trẻ con chạy băng qua sân chợ, lao xuống bến.

– Chào ông bạn già? Có con rắn hổ nào không? – Lão Ba Ngù vẫy tay hỏi.

Ông cụ già chít khăn đầu rìu màu đỏ đã đứng trước mũi thuyền. Nghe hỏi, ông liền đáp, giọng sang sảng:

– Kỳ này không có. Toàn rắn rằn ri cóc, rằn ri cá không thôi. Nhưng được cái rắn béo lắm? – đáp xong, ông bảo thằng bé cầm sào ban nãy: – Cò ơi! Lấy cái giỏ bự ra cho tía (cha, ba, bố ) đi con.

Thằng bé chui vô mui, đẩy hai cái giỏ tre ra khoang trước ông già dặng hắng một tiếng, xắn tay áo, hé sạp thuyền bỏ tay trần vào khoắng. Bọn trẻ nhỏ tức thời kêu lên: “Eo ôi?” và xô nhau lùi lại, vừa lùi vừa tranh nhau ngỏng cổ nhòm tới.

Ông cụ già thong thả lôi từ trong khoang ra từng con rắn một, bỏ vào giỏ. Con nào con nấy to cỡ bắp tay ông. Có một con rắn gì to như bắp chân người lớn nó cứ rúc vào khoang, khiến ông phải khom lưng thò tay vào, nắm cổ nó trì một lúc mới kéo ra được.

– Ông già có bùa, tụi bay ơi.

– Ối có con rắn quấn cánh tay ổng kia kìa!

– Khéo nó cắn, ông ơi?.

– Rắn người ta khâu miệng cả rồi. Cắn quái gì!

Bọn trẻ nhỏ chồm lên chồm xuống theo từng động tác cánh tay lôi của ông cụ già. Có đứa bì bõm lội xuống nước ngập ngang đầu gối, đứng ngó vào trong. Có đứa mặt tái xanh tái xám vì sợ, nhưng vẫn thích xem, cứ nhấp nha nhấp nhổm giẫm bùn sùng sục ở chỗ mé nước.

Khi ông già bậm môi nâng cái giỏ nặng trịch vác lên vai thì con chó săn lập tức phóng một cái, nhảy lên bờ.

Bọn trẻ con chạy dạt ra hai bên, làm nước bắn tung tóe. ông già lần lượt vác cả hai cái giỏ to tướng lên bến, đặt xuống gốc một cây bã đậu.

Những người mua đã trực sẵn chung quanh. Ai trỏ con rắn nào, ông già thò tay vào giỏ bắt ra con rắn ấy. Nói bao nhiêu tiền, họ trả bấy nhiêu, không kì kèo ngã giá như kiểu người ở các chợ tỉnh. Mỗi con rắn bán xong được siết chặt cổ bằng một sợi lạt và trao cho người mua xách về.

Lão Ba Ngù chọn mãi mới mua được một con ưng ý. Chao ôi, nom con rắn mà kinh? Bụng dẹt to cỡ bắp vế, không dài lắm, non mét ruỡi thôi, mà cái đầu thì bé như một quả bàng khô. Lão hất con rắn nằm vắt ra sau gáy, một tay bóp ngang cổ, một tay nắm gần chót đuôi đưa tới trước. Con rắn gồng mình nổi vảy lên chơm chớm như gai mít, sống lưng uốn qua uốn lại trên vai lão Ba Ngù, khiến tôi phát khiếp…

– Đi? Theo lão về nhà làm bữa cháo cho biết! – lão nhướng mắt bảo tôi.

– Để lúc khác bác ạ? Bữa nay cháu bận trông quán cho dì Tư… tôi kiếm cớ thoái thác.

– Hê Hê! Mày trông cái chợ thì có, chứ trông gì quán!

– Thôi, không thích ăn thì thôi. Không ai ép mày? – lão bước đi mấy bước còn quay lại nhìn tôi, cười khà khà: – Chỉ lo chừng mày quen mùi rồi, không đợi mời, mày cũng xách bát xách đũa chạy tới thôi!

Tôi trở về quán nuốt vội ba hột cơm nguội, xem chừng cốc bát đĩa có suy suyển món nào không, rồi quơ cái áo vét tông khoác vào người, đóng cửa quay ra chợ.

Tròi đã xế. Mặt trời đã xuống ngang ngọn cây tràm bên kia bờ kênh. Ông cụ già bán rắn vẫn còn ngồi dưới gốc cây bã đậu, tán lá xanh um ngả bóng đen trên mặt đất Bọn con nít ban sáng bây giờ cũng không thiếu mặt đứa nào, đâu như còn có thêm mấy thằng mới tới. Chúng chen nhau ngồi trước hai giỏ rắn, mặt mày nhem nhuốc, đỏ lơ đỏ lửng vì bêu nắng, vì mồ hôi và bụi bặm. Đứa thì khoanh tay lên gối, dán mắt vào những con vật bò sát kinh tởm đang ló đầu ra mắt giỏ, đứa thì cãi nhau, tiếng nói tiếng cười chí chóe.

Ông cụ già vẫn ngồi đó, tay chậm rãi nhồi thuốc lá vào nỏ tẩu: cán tẩu vừa dài vừa quăn queo trông rất lạ.

Gương mặt ông khoáng đạt, rất dễ mến. Làn da rám nắng hun hun màu đất thó vẫn còn căng ra như da mặt người trẻ, chỉ đôi khóe mắt và trên vầng trán cao là có xếp mấy đường nhăn. Râu ông không dày lắm, nhưng chắc như rễ tre và đen nhánh. Đôi mắt to, sáng quắc, núp dưới cặp chân mày rậm đen. Khi ông cắn tẩu thuốc vào mồm, môi dưới hơi trễ ra, méo xệch một bên vì khối nặng của cái tẩu hình thù kỳ dị và hơi to quá cỡ, thì trông ông như có vẻ dữ tợn.

Tôi ngồi sát vào gốc cây, bên ông cụ già lực lượng ấy. Bộ quần áo bà ba đen đã bạc thếch vì dãi dầu nắng mưa sương gió của ông còn mang nguyên mùi hăng hăng của lá cỏ cây rừng tận những vùng đất hoang sơ, và mùi khói nồng lửa bếp trong chiếc thuyền con lưu động.

Thấy tôi mới tới, thằng bé lùn lùn béo ục ịch hất hàm nháy mắt tôi, rồi ngó vào giỏ rắn:

– Sợ không?

Tôi cười, không đáp. Nói sợ thì nó chê mình nhát, mà nói không thì không đúng.

– Ê, nó sợ rồi tụi bay ơi! – một đứa lập tức kêu lên.

Hình như ông cụ già không biết có đám trẻ nhỏ ngồi chung quanh. Đôi mắt to, đen nhánh đăm đăm nhìn vào khoảng không trước mặt. Không biết ông đang nghĩ gì.

Bọn trẻ nhỏ thấy ông dễ dãi, không rầy la gì, và nhân có tôi mới tới, chúng muốn tỏ ra bạo dạn hơn nên càng nghịch tợn. Chúng nheo mắt, thè lưỡi, có đứa con giả vờ toan thò tay vào giỏ lôi rắn ra để ném vào tôi. Mỗi lần có đứa trẻ nào nhích lại gần giờ rắn thì con chó săn nằm bên chân chủ lại nhổm dậy, vươn cổ ra nhe răng gừ gừ. mấy tiếng. Rắn quấn nhau trong giỏ nằm im nhưng nghe tiếng chó gừ, những con rắn đang ló đầu ra mắt giỏ vội giật mình rụt vào, uốn éo cựa quậy làm cho rắn lớn, rắn bé trong giỏ chuyển lung tung. Mấy đứa lì lợm nhất, cởi trần truồng ngồi chầu hẫu gần bên giỏ rắn, liền co chân bật ngửa ra sau. Chúng nó cười hí hí một cách khoái trá. Nhưng cũng có đứa ngồi ở xa hơn lại mếu máo muốn khóc. Thằng bé lùn lùn béo ục ịch cầm cái que nhổm tới nhổm lui, quơ quơ ra bộ sắp chọc vào giỏ. Con chó săn lại vươn cổ ra gừ…gừ… mấy tiếng.

Lác đác có vài chiếc xuồng cập bến, họp buổi chợ chiều. Năm ba người đàn ông cởi trần, áo vắt vai từ trong dãy tiệm đi men ra, dừng lại dưới bóng cây bóng mát.

Trời oi quá! Chiều rồi mà nắng vẫn chói chang. Không một làn gió động. Những chiếc lá bã đậu như dán chặt lên nền trời, tôi ngửa cổ nhìn lên đến mờ mắt vẫn không tìm ra một chót lá nào nhúc nhích.

– Tàu bay bà con ơi – một người đàn ông bỗng hốt hoảng kêu lên, nhón nhắc ngóng chung quanh.

– Im? Để nghe coi nào! Im nghe chứ.

Mọi người nín lặng. ông cụ già bán rắn nhấc cái tẩu thuốc ra khỏi miệng, ngó xuống chân, cười mủm mỉm.

Tiếng vu vu của một con ong bầu đít vàng bay trong vòm nhánh lá rậm rịt, nghe hệt tiếng máy bay.

– Mồ tổ con ong. Làm người ta giật mình – người đàn ông kêu lên ban nãy nhăn nhó nói một câu chữa thẹn.

Từ hướng biển Đông dậy lên những tiếng ầm… ầm… nối nhau, nghe rung rinh cả chân trời.

– Chắc là tàu giặc, bà con ơi!

– In như máy bay ném bom chứ!

– Mình nghe giống tiếng sấm…

– Để nghe mà… Làm gì mà oà lên như giặc tới vậy?

Mấy người đàn ông cãi nhau một chốc rồi kẻ ngồi xuống gốc cây cầm áo quạt phe phẩy, người đi tới đi lui trong bóng râm hừng hực hơi bóng từ mặt đất xông lên, lặng lẽ không nói gì nữa. Thằng bé lùn béo ục ịch bỗng nhổm dậy.

– Tàu giặc, các chú ơi? Nghe ì… ì… đấy.

– Thằng con nít, đừng có nói bậy. Bộ mày ở ngoải vô sao mà nói đó là tàu? – người đàn ông tóc chơm chởm như gai trừng mắt quát.

Raà… ầ ầm? Rầm…? Rầm.:: Rầm… ầ… ầm! Bốn tiếng nổ bất thần nghe điếc tai. Những tiếng nổ chát óc, rền rền như tiếng súng đại bác, gần làm. Đám con nít thét lên, cắm cổ chạy túa đi. Mấy người đàn ông kia, có người cũng quýnh quáng toan chạy, nhưng cũng có người vẫn đứng yên nghe ngóng. Tôi quen tiếng súng tiếng bom từ mấy tháng nay, nên chỉ co người thụp xuống; khi dứt tiếng nổ, tôi liền đứng lên quan sát chung quanh. Nếu đó là súng giặc bắn vào thì cũng phải trầm tĩnh xem chúng tới từ hướng nào rồi hẵng chạy tránh chứ.

Dưới kênh, thuyền xuồng tranh nhau tách bến, giầm chèo va khua lộp cộp. Một vài chiếc tam bản nhẹ hai chèo đã rời đi xa lắc.

Ông cụ già bán rắn vẫn ngồi đó, phì phèo tẩu thuốc lá mặt bình thản như không. ông đưa mắt nhìn lên nền trời rồi hỏi tôi:

– Cháu không về nhà à?

– Cháu ở gần đây thôi. Đấy, chỗ cái quán đấy!

Tôi đáp, giọng vui vui,bụng có hơi rạo rực một chút vì thấy ông già chú ý tới mình. ông cụ già thong thả đứng dậy, búng tay bóc… boóc mấy cái. Con chó săn ve vẩy đuôi, chồm hai chân trước lên sủa oang oang, vụt lao đi như một mũi tên. Một lúc sau, con chó quay về dắt theo thằng bé cầm sào chống trước mũi thuyền ban sáng.

– Tìm được chú Võ Tòng không? – Ông già hỏi.

– Người ra bảo chú đi rồi. Đêm qua trời mưa, có con beo vào bắt gà dưới xóm Sậy, chú Võ Tòng rình bắn được. Đâu như chú chở con beo ra bán ngoài Ngã Bảy.

Tôi đã toan về, nhưng nghe thằng bé nói vậy bèn dừng nán lại, nghe hai cha con trò chuyện.

– Cò à, khiêng giỏ xuống ghe đi con.

– Không bán nữa sao, tía?

– Thôi. Khiêng đi…

– Tây tới gần rồi sao, tía?

– Tây đâu mà Tây. Dông sắp tới rồi. Dông lớn lắm đây con!

– Lúc này có tiếng sét nổ trên không, kinh quá hở tía.

– Ừ, thôi nhanh nhanh lên, con.

Lúc bấy giờ, gió bắt đầu thổi rao rao nghe mát mát.

Con chó săn đã phóng xuống thuyền, đứng sau lái ngóc mõm lên nhìn trời. Cha con ông cụ bán rắn vừa kịp khiêng hai chiếc giỏ xuống thuyền thì cơn giông ùn ùn thốc tới. Mây ở đây từ dưới rừng xa, lúc nãy còn không trông thấy, giờ đã đùn lên đen sì như núi, bao trùm gần kín khắp bầu trời. Từng cuộn mây khói đen là là hạ thấp xuống mặt kênh làm tối sầm những ngọn sóng đang bắt đầu gào thét, chồm chồm tung bọt trắng xóa. Từng đàn cò bay vùn vụt theo mây, ngửa mặt trông theo gần như không trông kịp. Xóm chợ Ngã Ba Kênh dường như bé lại thu mình cúi rạp xuống mặt đất. Mấy chiếc xuồng ba lá, mấy chiếc tam bản của ngườl trên phố buộc dưới chân cầu nước trồi lên hụp xuống theo lượn sóng nhào, dựng mũi ngóc lên như ngựa muốn bứt dây cương.

Chiếc thuyền chở rắn của cha con ông già đã chèo giạt sang bên kia bờ, xuôi xuống một quãng xa, lắc lư chui vào một con kênh nhỏ, hai bên bờ mọc chen chúc những cây tràm vỏ trắng, cành lá rậm rạp.

Tôi toan chạy đi thì chợt thấy dưới gốc cây bã đậu có một chiếc túi da beo. Thôi, đúng là của ông già bỏ quên đây rồi. Tôi chộp lấy, cắm cổ phóng theo bờ kênh, vừa hú vừa ngoắt sang bên bờ bên kia. Không ai nghe tiếng tôi hú gọi cả. Gió thổi ầm ầm ù ù như có hàng nghìn chiếc cối xay lúa khổng lồ đang quay thẳng cánh trên trời. Bờ kênh chỗ tôi đứng trống huếch trống hoác không một lùm cây bụi cỏ. Nhiều lúc, tôi có cảm giác như gió sắp nhấc bổng tôi lên, thổi tung đi. Dãy phố ngó ra mặt kênh chuyển mình nghe răng rắc, cột gỗ hàng hiên lay lay như đưa theo một chiếc võng vô hình. Ngói bị cuốn tung lên, bay khua lảng cảng trên nóc nhà nhiều nghe đến phát sợ.

Không về đến quán kịp nữa rồi. Tôi vừa thở vừa khom người chạy vào cái miếu cô hồn nằm xê xế phía dưới chợ, chỗ cây đa cổ thụ cành lá rậm xùm xòa đang quằn lên vật xuống như sóng. Trời đất mỗi lúc một tối sầm lại. Vũ trụ quay cuồng trong cơn gió mãnh hệt. Những tia chớp xé rạch bầu trời đen kịt phát ra những tiếng nổ kinh thiên động địa chung quanh ngôi miếu. Tôi thu người lại như một con trút, ngồi sát vào chân bệ thờ. Tường miếu xây bằng đá tổ ong, mái lợp ngói trát vữa rất chắc nhưng tôi bắt đầu cảm thấy không an toàn chút nào. Chà, giữa lúc trời sét mà lại dại dột tìm chỗ trú ẩn ngay dưới một gốc cây to Tôi vốn ghét những chuyện hoang đường quái đản, không bao giờ tin rằng có ma qủy, nhưng không hiểu sao trong giờ phút này bỗng thấy trong người rờn rợn. Pho tượng “ông Tiêu” (Thần quản lý ma quỷ) mặt vằn vện, đầu mọc ba cái sừng, chiếc lưỡi thè dài quá rốn, đứng ngay trên đầu tôi. Mỗi lần trời chớp, tôi đều ngửa mặt nhìn lên pho tượng với một nỗi lo sợ và tò mò không cưỡng được.

Tôi dặng hắng một tiếng rõ to, phủi đít đứng dậy bước ra ngồi ngay ở cửa miếu. Một vài hạt mưa bay chéo hắt vào mặt tôi lạnh buốt như nước đá. Bầy kiến đất bò ra bò vào cạnh chân tôi chúng quơ râu trò chuyện với nhau một cách bình thản, lại còn rủ nhau lũ lượt bò ra ngoài thềm miếu nữa chứ không cuống cuồng chạy rúc vào tôi như những khi trời sắp mưa to.

Cái túi da beo đựng vật gì hơi nặng thì phải. Hình như một con dao, bởi cái sừng ló ra ngoài cồm cộm thúc vào hông tôi. “Thử mở ra coi cái gì trong này?” Tôi vừa nghĩ thế, bỗng nghe từ trong lòng mình văng vẳng có tiếng bảo: “Đừng động chạm đến của cải của người ta. Tò mò vậy không tốt đâu!” Tôi ngồi im một lúc, bàn tay ngứa ngáy không chịu yên lại nắn nắn cái túi. Bây giờ tôi lại nghe tiếng văng vẳng ban nãy cùng phụ họa theo ý nghĩ của tôi: “Xem chút thôi mà! Vả chăng, mình có ý định lấy gì trong túi này đâu!” Thế là cái túi da beo mà tôi đã nhét nửa trong nửa ngoài vào túi áo vét-tông, tự nãy giờ còn nằm yên đã bị bàn tay tôi lôi phăng ra tức khắc.

A! Cái dao găm!

Tôi chợt kêu khe khẽ và từ từ rút lưỡi dao ra khỏi chiếc da bao láng bóng vì đẫm mồ hôi người lâu năm ánh thép xanh xanh của lưỡi dao sắc như nước lóa lên mỗi lần trời chớp. Cán dao bằng sừng, nạm khâu đồng dỏ có chạm hoa văn rất đẹp. Cán bằng sừng gì như sừng nai. “Còn những gì khác nữa trong cái túi bí ẩn này? đằng nào mình cũng đã mở ra rồi. Xem một chút thì có làm sao!”

Sự tò mò náo nức càng thôi thúc tôi hăm hở lật ra. Đây là một gói lưỡi câu đủ cỡ, mươi hai chiếc cả thảy, gói trong một mảnh giấy đầu cỡ bàn tay. Một cục đá và một miếng thép dèn dẹt to và dài, hơn mặt bao diêm. Đây nữa là một gói thuốc. Thuốc gì mà dẻo quánh, xin xỉn vàng, mùi hăng hắc, đưa lên mũi ngửi thấy buồn nôn. Tôi bỏ lại vào túi da beo tất cả các thứ linh tinh ấy, chỉ trừ cái dao găm, rồi thắt miệng túi thật chặt bằng sợi dây gân khô quắt và trơn tuột.

Cầm chặt cán dao trong tay, tôi bỗng thấy người mình như cao lớn hắn lên; dường như sức khỏe tăng lên vạn bội, tôi nghe mạch máu chạy râm ran trong những đầu ngón tay. Trời chớp nhoáng nhoáng. Tôi thong thả đứng dậy rồi bất thần quảy phắt lại, trừng trừng nhìn vào ngôi miếu. Pho tượng kinh khủng vẫn lặng lẽ đứng trên bệ thờ, lè chiếc lưỡi dài màu máu xuống rốn, bốn chiếc răng nanh trắng lòa nhe ra như cười.

Một lúc sau, gió dụi dần, rồi tắt hẳn. Trên ngọn đa tối sầm mà cơn gió cuồng vừa gào rú ghê người ban nãy, mấy con chim chào mào xôn xao chuyền cành nhảy nhót, hót líu lo. Nắng vàng màu da chanh phủ lên cây cỏ một thứ ánh sáng dịu mắt, trong suốt và lung linh dương như có thể sờ được.

Tôi trở ra bờ kênh, đi dọc dài theo bến một lúc, hy vọng sẽ gặp lại chiếc thuyền con của ông cụ giá bán rắn. Nhưng ngóng hoài mà vẫn không thấy tăm dạng chiếc thuyền và cha con ông già đâu cả. Nhìn về nơi tít tắp, chỉ thấy ánh phản quang của ráng chiều sắp tắt từ mặt nước dòng kênh hắt lên những lùm bụi ven bờ. Sực nhớ rằng dì Tư Béo sắp về, tôi bèn gấp buộc trở lại quán dể lo bữa cơm chiều.

GIA SƯ MÔN VĂN

Xem tiếp: Chương 4: Đêm Kinh Khủng

Đất Rừng Phương Nam ⭐️⭐️⭐️⭐️⭐️

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*