✅ Ca dao tục ngữ ⭐️⭐️⭐️⭐️⭐

Một số câu ca dao, tục ngữ thường được vận dụng trong hòa giải ở cơ sở

1. Ca dao, tục ngữ về hôn nhân – gia đình

a) Quan hệ giữa cha, mẹ và con

– Cá chẳng ăn muối cá ươn

Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.

– Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

– Cây xanh thì lá cũng xanh

Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

– Có cha có mẹ thì hơn,

Không cha không mẹ như đàn không dây.

– Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho trong chữ hiếu mới là đạo con.

– Công cha nghĩa mẹ cao dày

Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ

Nuôi con khó nhọc đến giờ

Trưởng thành con phải biết thờ hai thân

Thức khuya dậy sớm chuyên cần

Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con.

– Con dại, cái mang.

– Cá chuối đắm đuối về con

– Có chi bằng cơm với cá,

Có chi bằng má với con.

– Lá rụng về cội.

– Con hơn cha, nhà có phúc.

– Con có mẹ như măng ấp bẹ

– Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

– Con gái là con người ta

Con dâu mới thật mẹ cha mua về.

– Con chẳng chê mẹ khó, chó không chê chủ nghèo.

– Cha sinh không tày mẹ dưỡng.

– Mẹ dạy thì con khéo, bố dạy thì con khôn.

– Dâu dâu rể rể, cũng kể là con

– Dâu hiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai.

– Gái mà chi, trai mà chi

Sinh ra có nghĩa, có nghì thì hơn.

– Hùm giữ chẳng ăn thịt con.

– Một mẹ nuôi được mười con

Mười con không nuôi được một mẹ.

– Tu đâu cho bằng tu nhà,

Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu.

– Trẻ cậy cha, già cậy con

– Uốn cây từ thuở còn non,

Dậy con từ thuở con còn ngây thơ.

– Ép dầu ép mỡ

Ai nỡ ép duyên.

b) Quan hệ giữa vợ và chồng

– Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.

– Của chồng, công vợ

– Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi nhỏ lửa chẳng đời nào khê.

– Chồng em áo rách em thương

Chồng người áo gấm, xông hương mặc người.

– Chồng còng lấy vợ cũng còng

Nằm phản thì trật, nằm nong thì vừa.

– Chồng như đó, vợ như hom

– Cờ bạc là bác thằng bần

Cửa nhà tan nát, vợ con chia lìa.

– Ớt nào ớt chẳng cay,

Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

– Thuyền theo lái, gái theo chồng.

– Đạo vợ, nghĩa chồng

– Đốn cây ai nỡ đứt chồi

Đạo chồng nghĩa vợ, giận rồi lại thương.

– Gái có công chồng chẳng phụ

– Hai tay bưng đọi chè tàu

Vừa đôi thì lấy, ham giàu làm chi.

– Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

– Tay nâng chén muối đĩa gừng,

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

– Thương nhau bất luận giàu nghèo

Dù cho lên ải xuống đèo cũng cam.

– Thuận vợ, thuận chồng tát bể Đông cũng cạn.

– Xấu chàng hổ ai.

c) Quan hệ giữa anh, chị, em trong gia đình

– Anh em nào phải người xa

Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân

– Anh em như thể tay chân

Anh em hòa thuận song thân vui vầy.

– Anh em ăn ở thuận hòa

Chớ điều chếch lệch người ta chê cười.

– Anh em hiền thậm là hiền

Đừng một đồng tiền mà đấm đá nhau.

– Cắt dây bầu dây bí,

Chẳng ai cắt dây chị dây em

– Chị ngã em nâng.

– Em thuận, anh hòa là nhà có phúc

– Khôn ngoan đá đáp người ngoài,

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

– Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ

d) Quan hệ, ứng xử giữa các thành viên trong gia đình

– Trong ấm, ngoài êm

– Kính trên, nhường dưới

– Một giọt máu đào hơn ao nước lã.

– Trên thuận, dưới hòa.

–  Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì

– Lọt sàng xuống nia.

2. Ca dao, tục ngữ về quan hệ xóm giềng, xã hội

– Ăn cây nào, rào cây ấy

– Kính lão, đắc thọ

– Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

– Bán anh em xa mua láng giếng gần.

– Cái sảy nảy cái ung

– Cả giận mất khôn.

– Đói cho sạch, rách cho thơm.

– Không tham của người.

– Lạt mềm buộc chặt

Già néo đứt dây.

– Lời nói chẳng mất tiền mua,

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

– Một điều nhịn, chín điều lành.

– Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại lên hòn núi cao.

– Mình vì mọi người, mọi người vì mình

– Nói lời phải giữ lấy lời

Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

– Nhặt được của rơi, trả người bị mất.

– Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước thì thương nhau cùng.

– Ở hiền thì lại gặp lành

Những người nhân đức trời dành phúc cho.

– Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.

– Tối lửa tắt đèn có nhau.

– Thương người như thể thương thân.

– Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh là câu sửa mình.

– Xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau./.

Tổng hợp các câu Ca Dao – Tục Ngữ Việt Nam đầy đủ nhất

Ca dao là gì?

Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

Tục ngữ là gì?

Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen  nghĩa bóng.

Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liền và vần cách. 

Danh sách các câu Ca dao – Tục ngữ Việt Nam

1. Các câu Ca dao

Ă

  • Ăn cỗ đi trước,lội nước đi sau
  • Ăn kĩ no lâu,cày sâu tốt lúa.
  • Ăn cây nào, rào cây đó.
  • Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng
  • Ăn cháo,đá bát.
  • Ăn chưa no,lo chưa tới.
  • Ăn cơm mới,trò chuyện cũ
  • Anh em như thể tay chân
  • Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
  • Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
  • Ăn không ngồi rồi

B

  • Bán anh em xa, mua láng giềng gần.
  • Bênh lý không bênh thân
  • Bốn bể mười nhà.
  • Bán quạt mùa đông, mua bông mùa hè.
  • Ba mặt một lời.
  • Bắt cá hai tay.
  • Bắt người có tóc, ai bắt kẻ trọc đầu.
  • Bé không vịn,lớn cả gãy cành.
  • Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.
  • Bỏ thì thương, vương thì tội.
  • Bóc ngắn cắn dài.
  • Bạn bè là nghĩa tương tri.

sao cho sau trước một bề mới yên.

C

  • Có công mài sắt, có ngày nên kim.
  • Cái khó ló cái khôn
  • Chị ngã, em nâng.
  • Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng.
  • Cọp chết để da, người ta chết để tiếng.
  • Cây ngay không sợ chết đứng.
  • Chết vinh còn hơn sống nhục.
  • Chết đứng còn hơn sống quỳ.
  • Chân cứng đá mềm.
  • Cái răng,cái tóc là góc con người.
  • Cá lớn nuốt cá bé.
  • Chết trong còn hơn sống đục.
  • Chớ thấy sóng cả mà rã tay chèo.
  • Cáo chết ba năm quay đầu về núi.
  • Của một đồng, công một nén.
  • Chuột sa chĩnh gạo.
  • Chung lưng đấu sức
  • Chân yếu tay mềm
  • Chớ dung kẻ gian, chớ oan người ngay
  • Con hơn cha là nhà có phúc
  • Con không nghe mẹ nghe cha, mắm không ưa muối thì ắt là đổ đi
  • Con có cha như nhà có nóc
  • Cày sâu cuốc bẫm
  • Còn nước, còn tát
  • Của ăn của để
  • Cãi thầy núi đè

Đ

  • Đói cho sạch, rách cho thơm.
  • Đi một ngày đàng học một sàng khôn.
  • Đèn nhà ai nhà nấy rạng.
  • Đi với phật thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy.
  • Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ.
  • Đổi trắng thay đen.
  • Đúng mũi chịu sào.đa đa ích thiện
  • Đã nghèo còn mắc cái eo

G

  • Gieo gió gặt bão
  • Góp gió thành bão
  • Giấy rách phải giữ lấy lề.
  • Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
  • Giận quá mất khôn.
  • Gừng càng già càng cay.
  • Ghét của nào trời trao của nấy.
  • Gậy ông đập lưng ông.
  • Gạo chợ,nước sông,củi đồng,nồi đất.
  • Giấu đầu hở đuôi.
  • Gừng cay muối mặn
  • Gió bấc hiu hiu, sếu kêu thì rét.

K

  • Khôn đâu tới trẻ, khỏe đâu tới già.
  • Khôn không qua lẽ, khỏe chẳng qua lời.
  • Khôn nhà dại chợ.
  • Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm.
  • Không làm sao nên.
  • Kính lão đắc thọ.
  • Kính trên nhường dưới.
  • Không có lửa làm sao có khói.
  • Kiến tha lâu cũng đầy tổ.

L

  • Lá rụng về cội
  • Lá lành đùm lá rách
  • Liệu cơm gắp mắm.
  • Lùi một bước tiến ngàn dặm
  • Lửa thử vàng, gian nan thử sức
  • Lời nói chẳng mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
  • Lời nói là đọi máu, lời nói là gói vàng
  • Lòng tham vô đáy

M

  • Một cây làm chẳng nên non ba cây chụm lại nên hòn núi cao
  • Một điều nhịn chín điều lành .
  • Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
  • Môi hở răng lạnh.
  • Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.
  • Một con chim én không làm nên mùa xuân.
  • Một câu nhịn, chín câu lành .
  • Mất lòng trước, được lòng sau.
  • Muốn gì được nấy
  • Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.
  • Một miếng khi đói bằng một gói khi no.
  • Muốn ăn thì lăn vào bếp.
  • Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học..
  • Một mặt người bằng mười mặt của.
  • Mềm nắn, rắn buông.
  • Mềm quá thì yếu, cứng quá thì gãy.
  • Một người biết lo bằng kho người làm.
  • Mũi dại, lái phải chịu đòn.
  • Muốn ăn cá cả phải thả câu dài.
  • Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên.
  • Mau sao thì nắng,vắng sao thì mưa
  • Mưa tháng ba hoa đất, mưa tháng tư hư đất
  • Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây bão cũng giật
  • Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ
  • Mưa dầm thấm lâu
  • Miếng ăn là miếng nhục
  • Một miệng thì kín, chín miệng thì hở
  • Mèo què bị trận chó đòi
  • Mất lòng thánh, được lòng thần

N

  • Năng làm thì nên.
  • Nước chảy về nguồn, lá rụng về cội.
  • Nước lã không khuấy nên hồ.
  • Nước đến chân mới nhảy
  • Nước chảy đá mòn.
  • Nói có sách, mách có chứng.
  • No mất ngon, giận mất khôn.
  • Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm
  • Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột
  • Người sống hơn đống vàng.
  • Nghèo sinh bệnh, giàu sinh tật.
  • Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân.
  • Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.
  • Nhất canh trì,nhị canh viên, tam canh điền
  • Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống
  • Nhất thì, nhì thục
  • Người ta là hoa đất
  • Người thanh tiếng nói cũng thanh, chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu
  • Nước lã mà vã nên hồ, tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan
  • Nhất quỷ, nhì ma ,thứ 3 học trò.

O;Ơ

  • Oán không giải được oán
  • Oan có đầu, nợ có chủ
  • Oan oan tương báo , dỉ hận miên miên
  • Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác
  • Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
  • Ở chọn nơi, chơi chọn bạn

P

  • Phòng bệnh hơn chữa bệnh.
  • Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí.
  • Phú quý sinh lễ nghĩa , bần cùng sinh đạo tặc

Q

  • Quả báo nhãn tiền
  • Quân tử nhất ngôn

R

  • Rau nào sâu nấy.
  • Ruộng bề bề chẳng bằng nghề trong tay.
  • Rừng nào cọp nấy
  • Rừng vàng biển bạc

S

  • Sinh nghề tử nghiệp
  • Sinh lão bệnh tử
  • Sông có khúc, người có lúc
  • Sóng Trường Giang, sóng sau đập sóng trước
  • Sai một li đi một dặm
  • Sông sâu sóng cả chớ ngã tay chèo
  • Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó
  • Sáng ướt áo, trưa ráo đầu

T

  • Tấc đất tấc vàng
  • Tai vách mạch rừng
  • Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ
  • Tiên học lễ hậu học văn
  • Tiền nào của nấy
  • Tốt danh hơn lành áo
  • Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
  • Tham giàu phụ khó, tham sang phụ bần
  • Thất bại là mẹ thành công
  • Thắng làm vua thua làm giặc
  • Thương người như thể thương thân
  • Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa
  • Trâu chậm uống nước đục
  • Thắng không kiêu, bại không nản
  • Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược
  • Thẳng như ruột ngựa
  • Thùng rỗng kêu to
  • Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng
  • Thua keo này bày keo khác
  • Thích thì vô không thích thì vô

V

  • Vỏ quýt dày có móng tay nhọn.
  • Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm.
  • Vàng thật không sợ lửa.
  • Vạch áo cho người xem lưng.
  • Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm.
  • Vắt cổ chày ra nước.
  • Vắt chanh bỏ vỏ.
  • Vặt đầu cá, vá đầu tôm.
  • Vẽ đường cho hươu chạy.
  • Việc người thì sáng, việc mình thì quáng.
  • Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng.
  • Vỏ quít dày, móng tay nhọn.
  • Vong ân bội nghĩa.
  • Vừa ăn cướp, vừa la làng.
  • Vụng múa, chê đất lệch.
  • Vơ đũa cả nắm.

X

  • Xa mặt cách lòng.
  • Xa nhà cách trường.
  • Xanh vỏ đỏ lòng.

Y

  • Yêu nhau yêu cả đường đi ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng
  • Yêu nên tốt, ghét nên xấu
  • Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười
  • Yêu nhau lắm, cắn nhau đau

2. Các câu Ca dao Việt Nam

A – Ă – Â

  • Ai ơi bưng bát cơm đầy,

Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

  • Ai đưa con sáo sang sông,

Để cho con sáo sổ lồng bay ra.

  • Anh về học lấy chữ hương,

Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.

  • Anh đi anh nhớ quê nhà,

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

Nhớ ai dãi nắng dầm sương,Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

  • Anh em nào phải người xa,

Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.Yêu nhau như thể tay chân,Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.

  • Anh đi anh nhớ non buồi

Nhớ sông Vị Thủy, nhớ người còn trinh

  • Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu.

  • Ai về Hà Tĩnh thì về,

Mặc lụa chợ Hạ, uống chè hương sen.

  • Ai về Tuy Phước ăn nem,

Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm.

  • Ai về đến huyện Đông Anh,

Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương.Cổ Loa hình ốc khác thường,Trải qua năm tháng, nẻo đường còn đây.

  • Anh hùng là anh hùng rơm,

Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng.

  • Ai về tôi gửi buồng cau,

Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

  • Ai về nhớ Vải Ninh Hòa,

Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê,Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu Khê,Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào.

  • Ai về Nhượng Bạn thì về,

Gạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn.

  • Anh ơi! Cố chí canh nông

Chín phần ta cũng dự trong tám phầnHay gì để ruộng mà ngăn,Làm ruộng lấy lúa,chăn tằm lấy tơ.

C

  • Cây cao thì gió càng lay ,

Càng cao danh vọng càng đầy gian nan.

  • Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,Một lòng thờ mẹ kính cha,Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

D

  • Dã tràng se cát biển đông,

Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì.

  • Dù ai nói ngả nói nghiêng,

Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.

  • Dạy con từ thuở còn thơ,

Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.

  • Dù em con bế con bồng,

Thi đua yêu nước quyết không lơ là.

  • Dù ai đi ngược về xuôi,

Cơm nắm lá cọ là người sông Thao.

  • Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.

  • Dao cau rọc lá trầu vàng

Mắt anh anh liếc,mắt nàng nàng đưa.

  • Ai về đến huyện Sa Pa

Nhớ xem phong cảnh nóc nhà Đông Dương

Đ

  • Đi cho biết đó biết đây,

Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.

  • Con gái nói có là không,

Nói yêu là ghét, nói buồn là vui.

  • Đàn ông đi biển có đôi,

Đàn bà đi biển mồ côi một mình.

  • Đời người có một gang tay,

Ai hay ngủ ngày còn có nửa gang.

  • Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi,

Mà chỉ khó vì lòng người ngại núi e sông.

  • Đa tình thì vướng nợ tình,

Trách người đã vậy, trách mình sao đây !

  • Đã cam quấn quít má đào,

Những mong chim nhạn mai trao chỉ hồng.

  • Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.Buồn trông con nhện giăng tơNhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?Buồn trông chênh chếch sao Mai.Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

  • Đôi ta bắt gặp nhau đây,

Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang.

  • Đôi ta như tượng mới tô,

Như chuông mới đúc, như chùa mới xây.

  • Đôi ta như lửa mới nhen,

Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.

  • Đôi ta như rắn liu điu,

Nước chảy mặc nước, ta dìu lấy nhau.

  • Đôi ta như ruộng năm sào,

Cách bờ ở giữa làm sao cho liền?

  • Đôi ta như thể đồng tiền,

Đồng sấp, đồng ngửa, đồng nghiêng, đồng nằm.

  • Đôi ta như thể con bài,

Đã quyểt thì đánh, đừng nài thấp caoĐôi ta như đá với dao,Năng siếc, năng sắc, năng chào, năng quen.

  • Đôi ta như ngãi Phan Trần,

Khi xa ngàn dặm, khi gần bên đôi.

  • Đôi ta như rượu với nem,

Đang say ngây ngất, ai dèm chớ xa.

  • Đôi ta như lúa đòng đòng,

Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ chaĐôi ta như chỉ xe ba,Thầy mẹ xe ít, đôi ta xe nhiều.

  • Đêm nằm lưng chẳng tới giường,

Trông cho mau sáng ra đường gặp em.

  • Đi ngang thấy ngọn đèn chong chóng,

Thấy em nho nhỏ, muốn bồng mà ru.

  • Đường dài ngựa chạy biệt tăm,

Người thương có nghĩa trăm năm cũng về.

  • Đầu năm ăn quả thanh yên,

Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng.Vì cam cho quýt đèo bòng,Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương.

  • Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng:

Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?Trầu vàng nhá lẫn cau xanh,Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.

  • Đói lòng ăn nửa trái sim,

Uống lưng bát nước đi tìm người thươngNgười thương, ơi hỡi, người thương,Đi đâu mà để buồng hương lạnh lùng.

  • Đôi ta cùng bạn chăn trâu,

Cùng mặc áo vá nhuộm nâu một hang.Bao giờ cho gạo bén sang,Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh.

  • Đường xa thì thật là xa,

Mượn mình làm mối cho ta một người.Một người mười tám đôi mươi,Một người vừa đẹp vừa tươi như mình.

  • Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,

Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.

  • Đêm qua vật đổi sao dời,

Tiếc công gắn bó nhỡ lời giao đoan.

  • Đêm qua trời sáng trăng rằm,

Anh đi qua cửa em nằm không yên.Mê anh chẳng phải mê tiền,Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng.Thấy anh em những mơ màng,Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi.Thấy anh chưa kịp ngỏ lời,Ai ngờ anh đã vội dời gót loan.Thiếp tôi mê mẩn canh tàn,Chiêm bao như thấy anh chàng ngồi bên.Tỉnh ra lẳng lặng yên nhiên,Tương tư bệnh phát liên miên cả ngày.Nghĩ rằng duyên nợ từ đây,Xin chàng hãy lại chơi đây chút nào.Cho thiếp tỏ thiệt thấp cao!

  • Đợi chờ trúc ở với mai,

Đợi chờ anh ở với ai chưa chồng.

  • Đi qua nghiêng nón, cúi lưng,

Anh không chào, em không hỏi, vì chưng đông người.

  • Đôi ta thương mãi nhớ lâu,

Như sông nhớ nước, như nhành dâu nhớ tằm.

  • Đấy, đây xứng đáng cũng vừa,

Xin đừng kén chọn lọc lừa nơi nao.

  • Đu đủ tía, giềng giềng cũng tía,

Khoai lang ngâm, ngọn mía cũng giâm.Củi kia chen lẫn với trầm,Em giữ sao cho khỏi, kẻo lầm, bớ em!

  • Đi đâu bỏ nhện giăng mùng,

Bỏ đôi chiếu lạnh, bỏ phòng quạnh hiu!

  • Đại Hoàng phong cảnh hữu tình,

Của nhiều đất rộng gái xinh trai tài.

  • Đố ai lặn xuống vực sâu,

Mà đo miệng cá, uốn câu cho vừa.

  • Đố ai bắt chạch đằng đuôi,

Bắt chim đầu cánh, bắt người trong trăng.

  • Đố ai biết đá mấy hòn,

Tua rua mấy chiếc, trăng tròn mấy đêm.

  • Đố ai lượm đá quăng trời,

Đem gầu tát biển, ghẹo người trong trăng.

  • Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ,

Tua rua bằng một, cất bát cơm chăm.Tháng tư mua nứa đan thuyền,Tháng năm tháng sáu gặt miền ruộng chiêm.

  • Đố ai tát bể Đông Khê,

Tát sông Bồ Đề, trăng tròn mấy đêm.

  • Đông Thành là mẹ là cha,

Đói cơm rách áo thì ra Đông Thành.

  • Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.Ai vô xứ Nghệ thì vô!

  • Đường lên Mường Lễ bao xa?

Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh.

42 câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ nói về công lao to lớn của cha

Câu 1.  Cha đưa cả tấm lưng gầy

Chở che con được tới ngày hôm nay.

Câu 2.  Cha là bóng cả ngã che con

Là cả tình thương chẳng xói mòn.

Câu 3. Cha là bóng mát giữa trời

Cha là điểm tựa bên đời của con.

Câu 4. Cha là tất cả cha ơi

Ngàn năm con vẫn trọn đời yêu thương.

Câu 5. Khi con tát cạn biển Đông

Thì con mới hiểu tấm lòng của cha.

Câu 6. Cha ơi bóng cả cây cao

Che chở con những lao đao cuộc đời.

Câu 7. Bên mi ướt đẫm giọt sầu

Thương cha trăm tuổi sợ câu giã từ.

Câu 8. Buồn hay vui cha cũng cam để dạ

Khóc hay cười cha để cả trong tim

Như đại dương lòng biển cả lặng im

Trong sâu thẳm tiềm tàng nhiều bí ẩn.

Câu 9. Nay con lớn hai màu tóc

Thấm thía đời nước mắt của cha

Con sẽ sống với những gì cha mong ước

Hãy tin con! Cha mãi mãi trong lòng.

Câu 10. Cha tôi lắm nỗi gian nan

Vì con cơ cực tháng ngày phiêu linh

Cha là tất cả cha ơi!

Ngàn năm con vẫn trọn đời yêu thương.

Câu 11. Cha ơi bóng cả cây cao

Chở che con những lao đao cuộc đời

Cha cho con tình yêu thương và cuộc sống

Là mây trời lồng lộng chở che con.

Câu 12. Lòng cha yêu con thâm trầm biết mấy

Nén niềm đau quất trận roi đòn

Hiện tướng dữ dạy răn điều phải quấy

Trao gia tài đạo đức nào hơn.

Câu 13. Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.

Câu 14. Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ

Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha.

Câu 15. Tảo tần sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn

Đưa tấm lưng gầy cha che chở đời con

Câu 16. Ơn cha dưỡng dục dường non

Thái Nghĩa mẹ sinh thành tựa biển Đông

Câu 17. Có phải cha mẹ hứa nhau từ kiếp trước

Tạc lại hình con nguyên vẹn trái tim người.

Câu 18. Con đi xa cách muôn nơi

Công cha nghĩa mẹ đời đời không quên.

Câu 19. Công cha ngàn đời tâm tưởng mãi

Nghĩa mẹ muôn thuở nhớ thương hoài.

Câu 20. Bàn tay nối tiếp bàn tay

Vai cha lưng mẹ cõng đầy ấm no.

Câu 21. Ân cha mẹ là đại dương vô tận

Con chỉ là con sòng nhỏ lăn tăn.

Câu 22. Biển Đông có lúc vơi đầy

Chứ lòng cha mẹ biển trời nào dâng.

Câu 23. Mẹ cha gánh vác hy sinh

Mẹ cha quên cả thân mình vì con.

Câu 24. Cha một đời oằn vai gánh nặng

Mẹ một đời đôi dép lạc bàn chân.

Câu 25. Ơn cha bóng núi âm thầm

Nghĩa mẹ lặng lẽ nước sông đầu nguồn

Một đời dãi nắng dầm sương

Nuôi con khôn lớn tình thương dạt dào.

Câu 26. Đêm đêm thắp ngọn đèn trời,

Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

Câu 27. Đêm khuya trăng rụng xuống cầu,

Cảm thương cha mẹ dãi dầu ruột đau.

Câu 28. Mẹ còn là cả trời hoa,

Cha còn là cả một tòa kim cương.

Câu 29. Cha là hoa phấn giữa đời, 

Thiên thu tình mẹ rạng ngời tâm con.

Câu 30. Công cha nghĩa mẹ ơn thầy,

Ngày sau khôn lớn ơn dày biển sâu.

Câu 31. Công cha nặng lắm ai ơi,

Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.

Câu 32. Dạy con, con nhớ lấy lời,

Trọng cha, kính mẹ, suốt đời chớ quên.

Câu 33. Nuôi con mới biết sự tình

Thầm thương cha mẹ nuôi mình hồi xưa. 

Câu 34. Ngày nào em bé cỏn con

Bây giờ em đã lớn khôn thế này

Cơm cha, áo mẹ, công thầy

Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.

Câu 35. Thương mẹ nhớ cha như kim châm vào dạ,

Nghĩ đến chừng nào, lụy hạ tuôn rơi

Thuyền không bánh lái thuyền quầy

Con không cha mẹ ai bày con nên.

Câu 36. Có tát cạn biển đông mới tỏ tường lòng mẹ

Không trèo qua non thái sao thấu hiểu tình cha.

Câu 37. Lễ Vu Lan bâng khuâng nhớ cha, ơn dưỡng dục

Mùa báo hiếu ngậm ngùi thương mẹ, đức cù lao.

Câu 38. Cổ thụ là bóng mẹ cha

Cây non là cả vườn hoa tuổi hồng.

Câu 39. Cha mẹ ơn sâu tựa đất trời

Nuôi con lao nhọc chẳng đầy vơi

Mở vòng tay lớn ôm con trẻ

Dẫn dắt con đi suốt cuộc đời.

Câu 40. Trông lên thấy đạo cha già

Lòng con tưởng nhớ xót xa rầu rầu

Xa cha lòng những quặn đau

Biết ngày nào mới cùng nhau quây quần.

Câu 41. Ai về tôi gửi buồng cau

Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy

Ai về tôi gửi đôi giày

Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi.

Câu 42. Con có cha như nhà có nóc

Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

60+ câu ca dao, tục ngữ hay, ý nghĩa về tình cảm gia đình

1 Những câu ca dao, tục ngữ về hôn nhân vợ – chồng

1. Thuận vợ thuận chồng, tát biển đông cũng cạn.

2. Hôm nay sum họp trúc mai

Tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm.

3. Cây đa lá rụng đầu đình

Bao nhiêu lá rụng thương mình bấy nhiêu.

4. Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.

5. Qua đồng ghé nón thăm chồng

Ðồng bao nhiêu lúa, thương chồng bấy nhiêu.

6. Bạn nghèo thuở trước chớ quên

Vợ cùng kham khổ, chẳng nên phụ tình.

7. Mặc ai một dạ hai lòng

Em đây thủ tiết loan phòng chờ anh.

8. Lên non thiếp cũng lên theo

Tay vịn, chân trèo, hái trái nuôi nhau.

9. Ớt nào là ớt chẳng cay,

Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng.

10. Mình về tôi cũng về theo

Sum vầy phu phụ, giàu nghèo có nhau.

11. Em thuận anh hòa là nhà có phúc.

12. Của chồng, công vợ.

13. Giàu vì bạn, sang vì vợ.

14. Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ

Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.

15. Ðôi ta là nghĩa tào khang

Xuống khe bắt ốc lên ngàn hái rau.

2 Những câu ca dao, tục ngữ về tình cảm cha mẹ – con cái

1. Công cha như núi Thái Sơn, 

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

2. Chim trời ai dễ đếm lông

Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày.

3. Gió mùa thu mẹ ru con ngủ

Năm canh chày mẹ thức đủ năm canh.

4. Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.

5. Cá không ăn muối cá ươn

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

6. Công cha nặng lắm ai ơi,

Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.

7. Ơn dưỡng dục một đời con ghi tạc

Nghĩa sinh thành trọn kiếp mãi không quên.

8. Trăng khuya trăng rụng xuống cầu,

Vì con cha mẹ dãi dầu nắng mưa.

9. Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng,

Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.

10. Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Ngó về quê mẹ, ruột đau chín chiều.

11. Con có cha như nhà có nóc

Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

12. Con chẳng chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo.

13. Nuôi con chẳng quản chi thân,

Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

14. Đi khắp thế gian không ai tốt bằng Mẹ,

Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng Cha.

15. Lòng mẹ như bát nước đầy,

Mai này khôn lớn, ơn này tính sao.

16. Con hơn cha là nhà có phúc.

3 Những câu ca dao, tục ngữ về tình cảm anh chị em

1. Chị ngã em nâng.

2. Anh em như thể chân tay

Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

3. Anh em trên kính dưới nhường

Là nhà có phúc, mọi đường yên vui.

4. Khôn ngoan đối đáp người ngoài 

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

5. Anh em thuận hòa là nhà có phúc.

6. Máu chảy, ruột mềm.

7. Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau.

8. Một giọt máu đào hơn ao nước lã.

9. Anh em chém nhau đằng dọng, ai chém đằng lưỡi.

10. Anh ngủ em thức, em chực anh nằm.

11. Anh em như chông như mác.

12. Anh em hiếu thảo thuận hiền

Chớ vị đồng tiền mà mất lòng nhau.

13. Em khôn cũng là em chị, chị dại cũng là chị em.

14. Anh em hạt máu sẻ đôi.

15. Anh em nào phải người xa,

Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.

Yêu nhau như thể tay chân,

Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.

4 Các câu ca dao, tục ngữ về tình cảm ông bà – con cháu

1. Ngó lên nuộc lạt mái nhà,

Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.

2. Con người có cố, có ông

Như cây có cội, như sông có nguồn.

3. Bà ơi cháu quý bà thay

Quý bà về nỗi bà hay cho quà.

4. Chim trời có tổ người có tông​.

5. Cây kia ăn quả ai trồng

Sông kia uống nước hỏi dòng từ đâu.​

6. Ông ơi chớ vội đi xa

Để cho con cháu họp về chung vui.

7. Bà tôi tóc bạc da nhăn

Nhưng tôi vẫn quý vẫn thương vô cùng.

8. Nụ cười đẹp khiến lòng tôi hứng khởi

Chỉ ông bà mới làm được mà thôi.

9. Hỡi ai rắc muối lên này

Làm cho mái tóc của bà bạc phơ.

10. Ông bà là ngọc là vàng

Ai mà biết quý phúc rơi đầy nhà.

11. Tháng ba nô nức hội đền

Nhớ ngày giổ tổ bốn nghìn năm nay.

12. Con ai mà chẳng giống cha

Cháu ai mà chẳng giống bà, giống ông.

13. Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.

14. Thắp hương mà vái ông bà

Cho em lấy chú Lang Sa em nhờ.

15. Đi cầu đi quán

Đi bán lợn con

Đi mua cái xoong

Đem về đun nấu

Mua quả dưa hấu

Về biếu ông bà

Mua một đàn gà

Về cho ăn thóc

Mua lược chải tóc

Mua cặp gài đầu

Đi mau về mau

Kẻo trời sắp tối.

Ca dao tục ngữ về giữ chữ tín

Một lần bất tín, vạn lần bất tin.

Nghĩa là nếu một lần bạn đã thất hứa, thì sau này người ta sẽ không tin bạn nữa.

2. Quân tử nhất ngôn

Người quân tử chỉ nói một lời, tức đàn ông đã hứa là phải làm

3. Giấy rách còn giữ lấy lề

Mặc dù khó khăn, gian khổ nhưng vẫn giữ được lòng tin, đức hạnh và sự tín nhiệm đối với những người khác.

4. Chữ tín còn quý hơn vàng.

Tức nói vàng không mua được chữ tín.

5. Hứa hươu, hứa vượn

Hứa này, hứa kia, hứa các kiểu mà chẳng bao giờ làm

6. Treo đầu dê, bán thịt chó.

Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

7. Rao mật gấu, bán mật heo

Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

8. Rao ngọc, bán đá

Ám chỉ những người thất hứa, không có chữ tín

9. Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.

Ý muốn nói người quân tử đã làm mất lòng tin thì 4 ngưa sẽ xé xác (câu này thường gặp trong phim cổ trang Trung Quốc)

10. Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.

Để có được lòng tin từ người khác thì bạn trải qua biết bao điều, tuy nhiên chỉ 1 lần thất hứa bạn sẽ không còn lòng tin từ người khác.

11. Nhất ngôn cửu đỉnh

Ý nói rằng một lời nói đã lọt qua 9 cái đầu của hàm rang rồi thì khó lòng mà rút lại được.

12. Lời nói như đinh đóng cột

Đã nói ra thì chắc chắn phải thực hiện

13. Bảy lần từ chối còn hơn một lần thất hứa

Thà bạn từ chối không làm, còn hơn là nhận lời mà không làm chắc chắn sẽ mất lòng tin với người khác.

Ca dao 

Người sao một hẹn thì nên

Người sao chín hẹn thì quên cả mười

Có người thì hẹn một lần nhưng đều thực hiện được, giữ đúng lời hứa. Có người thì hẹn chín lần nhưng quên tới cả mười lần, tức là không thực hiện

2. Nói lời phải giữ lấy lời

Đừng như con bướm đậu rồi lại bay

Đã nói ra thì phải đảm bảo lời nói, đã hứa thì phải làm.

3. Nói chín thì phải làm mười

Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.

Ý nghĩa của câu nói trên là nói ít, hứa hẹn ít mà chăm chỉ làm sẽ được mọi người yêu quý; còn nói nhiều, hứa hẹn nhiều mà lại làm ít thì chỉ là kẻ ba hoa, lười biếng, luôn bị người đời cười chê.

4. Kiếm củi ba năm, thiêu một giờ

Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng

Ý muốn nói làm ra, gây dựng lên thì khó, nhưng hủy hoại, phá đi thì lại quá dễ, nên cần phải biết trân trọng những thành quả đã làm ra, và làm gì cho xứng đáng với điều đó.

5. Hay gì lừa đảo kiếm lời

Cả nhà ăn uống, tội trời riêng mang.

Nói rằng làm người phải sống ngay thẳng và có chữ tín, đừng đi lừa đảo người khác sau đó những tội lỗi đều riêng bản thân mình phải nhận lấy.

Một số câu ca dao tục ngữ nói về tính siêng năng kiên trì

TỤC NGỮ:

– Có chí thì nên

– Hữu chí cánh thành.

– Có chí làm quan, có có gan làm giàu.

– Người có chí thì nên, nhà có nền thì vững.

– Mưu cao chẳng bằng chí dày.

– Thua keo này bày keo khác.

– Trời sinh voi, trời sinh cỏ.

– Hết cơn bĩ cực, đến kì thái lai.

– Ai đội đá mà sống ở đời.

– Ba cái vui thì trẻ, ba cái bẽ thì già.

– Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.

– Chớ vì nghẹn một miếng mà bỏ bữa bỏ ăn, chớ vì ngã một lần mà chân không bước.

– Có cứng mới đứng được đầu gió.

– Không vào hang hổ, sao bắt được hổ.

– Mảng lo khó, bó không chặt.

– Trăm bó đuốc cũng vớ được con ếch.

– Kiến tha lâu đầy tổ.

– Có công mài sắt có ngày nên kim.

CA DAO:

– Ngọc kia chuốt mãi cũng tròn,
Sắt kia mài mãi cũng còn nên kim.

– Dẫu rằng chí thiễn tài hèn
Chịu khó nhẫn nại làm nên cơ đồ.

– Ai ơi giữ chí cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai.

– Hãy cho bền chí câu cua,
Dù ai câu chạch câu rùa mặc ai.

– Người đời ai khỏi gian nan
Gian nan có thuở thanh nhàn có khi.

– Có bột mới gột nên hồ
Tay không mà dựng cơ đồ mới ngoan.

– Ai ơi giữ chí cho bền
Dù ai đổi hướng xoay chiều mặc ai.

– Trời nào có phụ ai đâu
Hay làm thì giàu, có chí thì nên.

– Non cao cũng có đường trèo
Đường dù hiểm nghèo cũng có lối đi.

– Non cao cũng có đường trèo
Những bệnh hiểm nghèo có thuốc thần tiên.

Ca dao tục ngữ về thầy cô

Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ thì yêu kính thầy.

Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước mong.

Ơn thầy soi lối mở đường
Cho con vững bước dặm trường tương lai

Gươm vàng rớt xuống Hồ Tây
Ơn cha nghĩa trọng công thầy cũng sâu.

Mấy ai là kẻ không thầy
Thế gian thường nói đố mày làm nên.

Vua, thầy, cha, ấy ba ngôi
Kính thờ như một, trẻ ơi ghi lòng.

Mười năm rèn luyện sách đèn
Công danh gặp bước, chớ quên ơn thầy.

Mẹ cha công đức sinh thành
Ra trường thầy dạy học hành cho hay.

Ơn Thầy không bằng gốc bễ,
Nghĩa Thầy gánh vác cuộc đời học sinh.

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa.

Công cha, áo mẹ, chữ thầy
Gắng công mà học có ngày thành danh.

Bẻ lau làm viết chép văn
Âu Dương có mẹ dạy răn như thầy.

Dốt kia thì phải cậy thầy
Vụng kia cậy thợ thì mày làm nên.

Đến đây viếng cảnh viếng thầy
Không say mùi đạo cũng khuây mùi trần.

Ở đây gần bạn gần thầy
Có công mài sắt có ngày nên kim.

Tạ ơn thầy đã dẫn con vào rừng trí thức
Cảm nghĩa cô đã dắt trò đến biển yêu thương.

Ca dao tục ngữ về tình yêu đôi lứa

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,

Như đứng đống lửa, như ngồi đống than!”

“Đôi ta như cái đòng đòng,

Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha.”

Ca dao tục ngữ về tình bạn

Chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở”

“Khi nào trái đất còn quay

Trái tim còn đập vẫn là bạn nhau.”

“Giàu vì bạn, sang vì vợ

Ca dao tục ngữ về việc tôn trọng người khác

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây 

Có bát cơm đầy, nhớ đến nhà nông. 

Đường đi cách bến cách sông 

Muốn qua dòng nước, nhờ ông lái đò!”

“Ai ơi chớ vội cười nhau 

Cười người hôm trước hôm sau người cười”

“Lời chào cao hơn mâm cỗ”

Ca dao tục ngữ về thiên nhiên và lao động

Cơn đằng Đông, vừa trông vừa chạy 

Cơn đằng Nam, vừa làm vừa chơi 

Cơn đằng Bắc, đổ thóc ra phơi 

Cơn đằng Tây, mưa ngu bão ngáo.”

“Ai ơi nhớ lấy câu này 

Nuôi tằm ba lứa, ruộng cày ba năm 

Nhờ trời hòa cốc phong đăng 

Cấy lúa lúa tốt, nuôi tằm tằm tươi 

Được mùa dù có tại trời 

Chớ thấy sóng cả mà rời tay co.

Ca dao tục ngữ về tính tự chủ và tự lập 

“Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

“Nước lã mà vã nên hồ

Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan”.

Ca dao tục ngữ về Hà Nội

“Đường về xứ Lạng mùa xa

Có về Hà Nội với ta thì về

Đường thủy thì tiện thuyền bè

Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang”.

“Thăng Long Hà Nội đô thành

Nước non a vẽ nên tranh họa đồ

Cố đô rồi lại tân đô

Nghìn năm văn vật bây giờ là đây”.

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng”.

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*